DU HỌC LÀ…

Du học có nghĩa là mổi buổi sáng thức dậy, cảm giác đầu tiên sẽ là sự cô đơn, rồi tự hỏi mình đang ở đâu và sắp làm gì. Nhìn ra cửa sổ thấy sương lạnh buốt và biết mình có một ngày dài để chiến đấu. Nghe tiếng mình nhỏ nhẹ trong lòng, ráng lên nào, sống vì tương lai…

Du học có nghĩa là sẽ đeo ba lô trên lưng và sách nặng cầm trên tay, bước vào cổng trường và nhớ ngày xưa mình đi học còn vì niềm vui được gặp bạn bè mỗi ngày. Bây giờ mình đi học, cũng vì niềm vui ấy ở thì tương lai..

Du học có nghĩa là sẽ có ngày bật khóc, chỉ còn cảm giác run lên và sự trống rỗng trong đầu, buồn bã, cô độc và bi quan. Đây đâu phải là mình?

Du học có nghĩa là da sẽ trắng. Gió lạnh thổi tan nắng mỏng manh khiến da vàng cũng thành trắng xanh, trắng muốt. Và gió thổi bay cả những gân hồng ngọt ngào của một đất nước xa xôi, thổi khô nước mắt, lạnh tình người và lạnh trái tim.

Du học có nghĩa là một buổi trưa lang thang ở trường, ngồi nói chuyện với bạn hay chỉ một mình trong thư viện. Tất cả đều không mang cảm giác Đủ! Chỉ biết mình đang sống tạm, sống thiếu thốn tình cảm, sống để sau này sẽ được sống Đủ!

Du học có nghĩa là cơm trắng ngon hơn hamburger, Sandwich không bằng bánh mỳ, và Soba hay Ramen cũng không sánh được với bát bún gà, bát phở bò giản đơn. Đi nhà hàng nhìn 1 menu dài dằng dặc nhưng lại chỉ thấy thèm những món ăn mẹ nấu…

Du học là xa nhà, xa gia đình, xa bè bạn, làm gì cũng lủi thủi một mình. Ốm nằm vật ra cũng tự cố bò dậy mà ăn, mà uống thuốc. Là những chiều đông run cầm cập cầm đeo ba lô, cầm ổ bánh mỳ lê lết ở ga tàu bắt xe đi học. Vừa đứng chờ tàu vừa run vừa xoa tay cho ấm, vừa gặm bánh cho qua bữa.

Du học là những ngày đi làm đến 1h đêm, không còn tàu phải 1 mình đi bộ về nhà.

Du học là cái cảnh nhìn nhà nhà người người cùng nhau sum họp, cùng nhau vui vầy những dịp lễ tết. Còn mình, lo “cày bừa” kiếm tiền, tối mịt trở về tự mình chào mình trong căn phòng bé tí, tự ăn mừng bằng 1 gói khoai tây chiên, 1 chai Coca, 1 quyển truyện mang từ Việt Nam sang và tráng miệng bằng nỗi nhớ quê nhà da diết, nhớ đến muốn gào lên chạy ngay về…

Du học có nghĩa là sẽ phải nhìn theo cái vẫy tay xa xăm của người thân sau lớp kiếng ngăn cách ở sân bay, là nụ cười và lời chúc của bạn tiễn đưa, là nước mắt của mình sau lớp chăn bông dày, là câu hứa năm sau gặp lại bật ra trên những đôi môi run, là thời gian rất dài…

Du học có nghĩa là tức tối khi muốn viết câu văn hay mà từ vựng lại nằm đâu đó quá xa trong cuốn từ điển dày cộm, là ngu ngơ tập phát âm thêm một thứ ngôn ngữ khác nữa không phải tiếng Việt, là mới toanh trong 1 ngôi trường mới, 1 đất nước mới và những luật lệ.

Du học là cảm giác hụt hẫng mỗi khi có chuyện gì rất vui, muốn gào thét đùa vui nhưng rồi chợt nhận ra quanh mình hình như không ai quan tâm cả…

Du học là phải vững vàng… muốn khóc cũng không được khóc vì mình phải mạnh mẽ.

Du học là khó thở khi phải nhận áp lực, sự kì vọng của mọi người vì mang tiếng đi xa học mà lại không làm được cái gì thì thật là xấu hổ.

Du học là buồn mỗi khi bị nói là “Nhật” hóa, đua đòi bắt chước theo người ta trong khi thực chất đâu phải vậy.

Du học là không được cảm thông khi chẳng may nói chuyện cứ bị xen vài tiếng ngoại ngữ vào, bị nói là quên tiếng mẹ đẻ khi mà thực chất đâu có muốn thế. Cả năm trời thèm khát được nói tiếng Việt mà khó làm sao, thay vào đó phải dùng, phải luyện tiếng nước ngoài để học thì tất nhiên sẽ bị thành thói quen và cần thời gian để chỉnh khi về thăm nhà chứ!

Du học là sự cố gắng từng ngày, đếm từng ngày để được về thăm nhà…

Du học là đắn đo mỗi khi muốn về mà lại xót vì chi phí khá cao. Nếu cố gắng chịu đựng thì có thể tiết kiệm được vào tiền học nhưng lại rất nhớ nhà và muốn được ở bên mọi người…

Du học là phải hi sinh tình cảm, tình yêu… và luôn phải tự hướng tới tương lai, luôn tự bảo mình phải cố rồi tương lai sẽ được đền đáp để mà cố gắng hơn…

Du học có nghĩa là lớn lên. Cầm dao xắt hành và đũa chiên cơm, nặn bột làm bánh bao và bánh quy. Lấy giấy tờ và đôi co vì một quyền lợi, nắm tương lai trong tay và tự đóng khuôn để đúc chính mình, rớt vào một mặt khác của trái đất, sẽ nhận thấy những điều mình hiểu lâu nay không đơn giản như mình hiểu, sợ hãi trước cuộc đời nhưng nôn nóng muốn bước vào đương đầu với nó.

Du học là phải kìm nén mỗi khi rất buồn, muốn gọi ngay cho người thân để tâm sự nhưng phải nén lại vì không muốn họ buồn theo.

Du học có nghĩa là sẽ chỉ được nhìn bố mẹ qua màn hình điện thoại nhỏ xíu và nghe bố mẹ cười hiền, mấp máy con đừng lo. Nhưng sau lưng, bố mẹ đang phải vật lộn với những “núi đá” nặng trịch của cuộc đời, còn trước mặt mình lại là tương lai thênh thang mở rộng. Má ấm lên giọt nước mắt, vì tình yêu bao la có nghĩa là hy sinh với nụ cười trên môi…

Du học có nghĩa là tự hào. Tự hào thấy mình thay đổi, tự hào thấy mình đang lớn, tự hào vì mình được yêu thương.

Du học có nghĩa là tự hứa nhiều lắm. Tự hứa với mình, với “người ấy”, với gia đình, với bạn bè. Tự hứa không được lãng phí những gì đã hy sinh. Tự hứa và tự ráng hoàn thành lời hứa.

Du học sướng??? Có ai hiểu nỗi lòng của những người xa quê để Học…..

Du học có nghĩa là đi xa học. Là đi học ở xa. Là đi học ở rất xa. Là đi học ở rất rất xa…

Và, du học là nhiều khi muốn buông tay vì tất cả những cảm xúc trên nhưng vẫn phải nắm chặt và tiếp tục bước…

Lịch sử hình thành chữ viết Nhật

Có ai đó nói với tôi rằng “Ngôn ngữ là kết quả của quá trình lịch sử phát triển và chọn lọc của mỗi dân tộc. Chính vì vậy ngôn ngữ không chỉ là phương tiện truyền tải thông tin mà còn thể hiện tinh thần dân tộc của mỗi quốc gia. Học ngôn ngữ chính là học về văn hoá của quốc gia đó”.

Đã có khi nào bạn tự hỏi Tại sao Tiếng Nhật lại sử dụng những 4 bảng chữ cái (Hiragana; Katakana; Romaji; Kanji) chứ không phải một như các nước thông thường khác trên thế giới. Hay có khi nào bạn chợt hỏi “Chữ Hán này đã du nhập vào Nhật Bản như thế nào”….

Cho đến nay người ta vẫn chưa có bằng chứng rõ ràng về việc Tiếng Nhật bắt nguồn từ bao giờ và lịch sử hình thành của nó nhưng có những ghi chép cho rằng khoảng trước thế kỷ thứ 5 người Nhật vẫn chưa có chữ viết.

Đến khoảng đầu thế kỷ thứ 5, đã xuất hiện những nhóm người Trung Quốc mang các văn bản chữ Hán đến Nhật Bản. Và như vậy người Nhật đã lợi dụng Hán tự sử dụng làm chữ viết cho tiếng Nhật. Vào thời này, người ta vẫn dùng y xì các chữ Hán du nhập từ Trung Quốc và sử dụng chúng nhằm mục đích phiên âm nhiều hơn biểu thị nghĩa. Người ta gọi các chữ hán này là Manyougana (万葉仮名、Vạn diệp giả danh, được dùng trong truyển tập thơ cổ Manyoushuu).

Vậy tại sao người Nhật còn sử dụng thêm các bảng chữ cái khác nữa? Lý giải cho điều này có một vài lí do như sau.

Chữ Hiragana hình thành từ chữ Kanji

Hiragana được phát minh ở khoảng thế kỉ thứ 9, bởi những tiểu thư, công chúa thời xưa để viết thơ phú. Do không được tiếp cận và giáo dục tốt về Hán tự như nam giới nên họ đã tự sáng tạo ra bảng chữ cái mới dựa trên Manyogana. Đó chính là Hiragana (平仮名、bình giả danh). Ban đầu khi ra đời, bảng chữ cái Hiragana chỉ được các thiếu nữ ưa chuộng để viết những lá thư, kí sự, hoặc ghi lại những gì riêng tư thầm kín.. mà không được phép tham gia vào nền giáo dục cao.

Tuy nhiên, cùng với sự phát triển của đất nước, ngày càng có nhiều kí giả đi khắp đó đây để ghi lại cuộc sống của các vùng đất khác. Và để tiện cho việc tốc ký thì chữ giản thể Hiragana được xem như là lựa chọn tối ưu. Ngoài ra, Hiragana dễ đọc và viết hơn nên kể cả tầng lớp nông dân cũng có thể dễ dàng tiếp cận.

Một đặc điểm nữa đó là chữ Hiragana mềm mại phù hợp với việc chuyển tải ý vị của những đoạn thơ (lối ngâm thơ Waka xưa của Nhật Bản).

Do đó, chữ Hiragana ngày càng được nhân rộng và phát triển.

Cùng trong thế kỉ thứ 9, Katakana (カタカナ、片仮名、phiến giả danh) xuất hiện do được các nhà sư giản lược manyogana thành một thành tố đơn. Việc này nhằm dịch cách đọc Hán tự trong sách Kinh từ Trung Quốc. Do đó vai trò của nó cũng giống như Furigana bây giờ, dùng để phiên âm.

Cho đến khoảng thế kỉ 16, khi mà nước Nhật bắt đầu tiếp xúc với các nước phương Tây, cùng với việc xuất hiện các ngôn ngữ lạ, người Nhật đã dùng bảng chữ cái của mình để kí hiệu cách phát âm của những chữ cái đó. Về sau thì Sakamoto Ryouma là người cơ bản đã viết nên bộ quy tắc phát âm các từ nước ngoài và được người dân nhiệt tình hưởng ứng.

Cho đến nay Katakana vẫn được dùng thuần tuý để phiên âm các từ nước ngoài, nhưng một số từ được Nhật hoá và viết bằng Hiragana (ví dụ như Thuốc lá タバコ hay たばこ thì đều được công nhận).

Thực tế phải đến thời Minh Trị, bộ bảng chữ cái Hiragana và Katakana mới được thống nhất .

Ngày nay, cả ba bảng chữ cái được dùng đan xen nhau. Chữ Hán được dùng cho danh từ, gốc của động từ, tính từ. Hiragana được dùng để viết đuôi của động từ (okurigana), từ chỉ có ở tiếng Nhật, từ khó nhớ bằng Kanji. Ngoài ra Hiragana cũng được dùng trong sách cho trẻ em và khi muốn giảm nhẹ mức độ của từ hoặc yêu cầu, ví dụ (ください、kudasai, xin vui lòng); (こども, kodomo, trẻ em). Ngược lại, vì có hình dạng góc cạnh nên katakana được dùng để biểu thị từ tượng thanh, các âm thô và đột ngột, âm thanh của động vật, các từ dùng để nhấn mạnh và từ vay mượn của nước ngoài…

Vậy là chúng ta cũng đã phần nào hiểu được sự ra đời của ba bảng chữ cái hiện nay đang được sử dụng ở Nhật Bản rồi phải không. Hi vọng sau bài viết trên, các bạn sẽ phần nào hiểu được ngôn ngữ mà hàng ngày chúng ta đang học tập và sử dụng để thêm yêu mến và động lực học nó mỗi ngày nhé!